Tạo vốn bằng phương thức nào? (tiếp)

 
Trong quá trình huy động vốn, một đòi hỏi tất yếu là khoản tiền vốn huy động cần được đảm bảo bởi tài sản hợp pháp của công ty, hoạt động kinh doanh có triển vọng cũng như thị trường mà công ty bạn đang kiểm soát.

Bạn nên chứng minh cho nhà tài trợ thấy những tài sản hữu hình và tài sản vô hình mà bạn đang sở hữu. Đôi khi tài sản vô hình như giá trị thương hiệu, thị phần, kênh phân phối... còn có giá trị lớn hơn rất nhiều so với tài sản hữu hình. Đôi khi, việc nhờ một tổ chức chuyên nghiệp định giá công ty của bạn sẽ rất cần thiết để việc huy động vốn của bạn được thực hiện dễ dàng và nhanh chóng hơn.

Trong các kế hoạch huy động vốn, vấn đề lo ngại nhất của các nhà tài trợ là những rủi ro tài chính do sự biến động của thị trường, như giá ngoại tệ lên xuống thất thường, đồng nội tệ mất giá, thị trường bất động sản thay đổi, tình trạng trượt giá phi mã,... Các nhà tài trợ vốn sẽ luôn xem xét và suy tính rất kỹ về các rủi ro xấu nhất có thể xảy ra.

Chính vì vậy, để giúp các nhà tài trợ sớm ra quyết định, công ty nên có các phương án giải thích rõ ràng về tính tối ưu và khả thi của khoản tiền huy động, đồng thời việc giải thích càng chi tiết, rõ ràng bao nhiêu sẽ càng có lợi cho bạn bấy nhiêu.

Sau cùng, bạn chỉ nên cân nhắc tới một khoản huy động vốn, khi bạn tin tưởng và tính toán thấy rằng lợi nhuận thu được từ các hoạt động kinh doanh được đầu tư từ khoản vốn huy động đó sẽ cao hơn các chi phí huy động vốn. Và bạn tuyệt đối không nên huy động vốn để trang trải các khoản lỗ của công việc kinh doanh hiện tại, bởi việc này có thể kéo bạn lún sâu vào "vũng lầy" với tình trạng khó khăn hơn về tài chính . Thay vào đó, bạn có thể cắt giảm các loại chi phí, hợp lý hoá hoạt động kinh doanh sao cho tốt hơn và hiệu quả hơn. Bạn chỉ nên tập trung vào các hoạt động kinh doanh nào chắc chắn mang lại lợi nhuận. Nếu ngay cả biện pháp này cũng không giúp gì cho bạn, thì bạn nên suy nghĩ tới việc chuyển hướng hoạt động kinh doanh của mình.

Tại Mỹ, ngay ở Nhật Bản chứng thư lập hội (articles of association), những người sáng lập công ty đã ấn định số vốn của công ty là bao nhiêu, chia ra bao nhiêu phần bằng nhau, gọi là cổ phần. Khi cổ phần bán đi thì người mua nhận được biên nhận đã trả tiền gọi là cổ phiếu và họ trở thành cổ đông.

Cổ phần luôn là cách thức giải quyết vấn đề vốn một cách hiệu quả nhất. Công ty bán cổ phần để gọi vốn, giống như bán một viên kẹo. Ở mức phát triển thấp, công ty chỉ có viên kẹo làm theo hai hình, hình vuông có đề tên người chủ và hình tròn không đề tên ai. Loại vuông không được chuyển nhượng cho người khác, gọi là cổ phiếu ghi danh, còn loại tròn có thể chuyển nhượng cho bất kỳ ai, gọi là cổ phiếu vô danh. Chuyển nhượng cổ phiếu dễ dàng cũng là một cách thu hút người mua. Đến mức phát triển cao hơn, công ty dựa trên lợi ích của các cổ đông để bán cổ phiếu ưu đãi cho cổ đông. Đây là cổ phiếu được ưu tiên chia lời.

Để huy động vốn, công ty sẽ bán cổ phiếu cho cổ đông tùy theo số tiền cần có. Nếu định bán rộng rãi ra cho dân chúng, thì công ty cần phải đăng ký cổ phiếu với Sở giao dịch chứng khoán, được gọi là niêm yết chứng khoán trên thị trường chứng khoán. Lúc đó, cổ phiếu có thêm một tên mới là chứng khoán. Nếu chỉ bán cho vài người thì không phải đăng ký cổ phiếu. Tùy theo tình hình tài chính của công ty, nếu làm ăn khấm khá, công ty sẽ mua lại số cổ phiếu đó để cất giữ.

Sau khi gọi vốn lần đầu, những lần sau, muốn tăng vốn, công ty bán nốt số cổ phiếu hãy còn giữ lại lúc đầu, hay phát hành một đợt cổ phiếu mới. Mức phát hành bao nhiêu sẽ do hội đồng quản trị công ty quyết định. Cứ mỗi lần phát hành mà muốn bán ra công chúng thì lại phải làm đủ thủ tục niêm yết như lần đầu.

Thuê tài chính là một hình thức đang được áp dụng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Ðức, Thuỵ Ðiển, Úc... Loại hình cho thuê tài chính đã được một số công ty đưa ra thị trường tài chính vào những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ XX với tên gọi là thuê tài chính (finance lease).

Cho thuê tài chính (finance leasing) là một dạng cho thuê máy móc, thiết bị và động sản. Người ta còn gọi là cho thuê thiết bị (leasing). Ở nhiều nơi, người ta cho thuê xe hơi, máy bay, xe tải, tàu hoả, khoang tàu thuỷ và tàu thuỷ, máy photocopy, máy fax,...Tập đoàn General Motor của Mỹ còn cho thuê cả máy vi tính. Hiện nay, Vietnam Airlines đã thuê máy bay của TEAC, AirFrance... Tại Mỹ, ngành cho thuê tài chính chiếm khoảng 25 - 30% tổng số tiền tài trợ cho các giao dịch mua bán thiết bị hàng năm của các công ty. Nguyên nhân chính thúc đẩy các hoạt động cho thuê tài chính phát triển nhanh là do nó có tính chất an toàn cao, tiện lợi và hiệu quả cho các bên giao dịch. .

Không thể phủ nhận rằng sự có mặt của các công ty cho thuê tài chính đã "mở lối thoát" cho các công ty, trong thời điểm các công ty này đang gặp khó khăn về thủ tục thế chấp tài sản để vay vốn ở các ngân hàng. Tuy nhiên, khái niệm cho thuê tài chính vẫn còn khá mới mẻ với nhiều công ty. Ít công ty hiểu được rằng cho thuê tài chính là một hình thức tài trợ tín dụng, thông qua việc cho thuê các loại tài sản, máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển... là nhu cầu mà các công ty, các nhà đầu tư mong muốn để đổi mới máy móc, thiết bị, hiện đại hóa công nghệ sản xuất kinh doanh. Đặc trưng của phương thức này là đơn vị cho thuê (tức là chủ sở hữu tài sản) sẽ chuyển giao tài sản cho người thuê (tức là người sử dụng tài sản) được quyền sử dụng và hưởng dụng những lợi ích kinh tế mang lại từ các tài sản đó trong một thời gian nhất định. Người thuê có nghĩa vụ trả một số tiền cho chủ tài sản tương xứng với quyền sử dụng và quyền hưởng dụng. Điều này cũng cho thấy việc cấp tín dụng dưới hình thức cho thuê tài chính không đòi hỏi sự bảo đảm tài sản có trước, tạo điều kiện cho các công ty tiếp cận hình thức cấp tín dụng mới, vừa giải tỏa được áp lực về tài sản đảm bảo nếu phải vay ở ngân hàng. Loại hình cho thuê tài chính rất thích hợp cho các công ty vừa và nhỏ nhờ ưu điểm không phải thế chấp tài sản như khi vay vốn ở các ngân hàng. Nguồn vốn từ các tổ chức tài chính quốc tế Trên thế giới có rất nhiều tổ chức tài chính chuyên về hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân, trong đó được biết đến nhiều nhất là Công ty tài chính quốc tế (IFC). IFC là một tổ chức tài chính phi chính phủ trực thuộc Ngân hàng thế giới, được thành lập với chức năng hỗ trợ tài chính cho các công ty dưới nhiều hình thức khác nhau, thông qua các dự án đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh. Hoạt động của IFC đã được thực hiện tại nhiều nơi trên thế giới, từ những nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản đến những nước đang phát triển như Trung Quốc, Thái Lan...

Điểm đặc biệt trong hoạt động của IFC là bản thân tổ chức này không tạo ra các dự án mới, mà IFC chỉ đầu tư vào hoặc hỗ trợ cho các dự án, công ty hiện có trên thị trường. Nói một cách khác, qui mô hoạt động của IFC phụ thuộc rất nhiều vào mức độ hoạt động của bản thân các công ty. Để thực hiện chương trình tài trợ vốn, IFC sẽ xem xét, tìm kiếm các công ty hoạt động tốt trong lĩnh vực công nghệ thông tin, tài chính, tư vấn... sau đó hỗ trợ tài chính dưới hai hình thức: một là sử dụng các ngân hàng như là khâu trung gian trong việc cung cấp tín dụng cho khu vực kinh tế tư nhân; hai là hỗ trợ kỹ thuật cho các công ty trên các mặt quản lý hoạt động tài chính, quản lý rủi ro, tăng cường vốn.... IFC hiện cũng đang xem xét việc thành lập một quỹ đầu tư hoặc trực tiếp cấp vốn cho các dự án do các công ty tư nhân thực hiện, hoặc có thể đứng ra làm trung gian kêu gọi các tổ chức tài chính khác.

Thông qua việc hỗ trợ đầu tư cho nhiều dự án trong các lĩnh vực kinh doanh khác nhau từ xi măng, sắt thép, nông nghiệp, cơ sở hạ tầng cho đến du lịch, dịch vụ tài chính,... với vốn đầu tư lên tới hàng trăm tỷ USD, có thể nói IFC đã đóng vai trò rất lớn trong việc hỗ trợ sự phát triển của các công ty, tạo cơ sở hình thành nhiều khu vực kinh tế tư nhân năng động trên thế giới.

Tuy nhiên, IFC không phải là một định chế tài chính trực tiếp đầu tư cho các công ty, mà chỉ đóng vai trò trung gian, cầu nối. Một mình IFC khó có thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng lớn của các nhà đầu tư. Vấn đề là làm thế nào để các tổ chức và các định chế tài chính khác cùng chung sức giúp các công ty cất cánh? Cũng chính vì lý do này mà IFC hiện đang tìm một số tổ chức tài chính cùng hợp tác hỗ trợ tín dụng cho các công ty trên toàn thế giới. Nếu công ty của bạn cần vốn, bạn có thể liên hệ với chi nhánh IFC tại địa phương mình để tìm hiểu thêm thông tin về các chương trình tài trợ vốn đầu tư.

Nguồn: baothuongmai.net sưu tầm và tổng hợp từ http://acong.nld.com.vn

Nhãn: ,

Tạo vốn bằng phương thức nào? (Phần 1)

 
Có 1001 cách tạo vốn khác nhau tuỳ thuộc vào kinh nghiệm sống, trí thông minh, sự khôn khéo, nhạy bén và cả sự can đảm của người đứng đầu doanh nghiệp.

Konozuke Matshusita là một trong những tỷ phú giàu nhất ở Nhật Bản,người sáng lập ra tập đoàn điện tử mang tên ông. Hồi còn nhỏ, gia đình Matshuhita rất nghèo, lại là con út trong một nhà có 9 người con ở miền Trung Nhật Bản nên ông phải bỏ học lúc 19 tuổi, làm thuê ở một cửa hiệu sửa chữa xe máy kiếm sống. Ông đã tích góp từng xu để nuôi chí làm giàu. Để có tiền làm nhà xưởng, ông đã phải huy động vốn từ rất nhiều nguồn khác nhau, thậm chí bán cả tư trang của vợ mình. Đến nay, nhà máy của Matshusita phát triển thành một tập đoàn Matshusita với những mặt hàng điện tử nổi tiếng mang nhãn hiệu Panasonic và National. Hiện nay Matshusita sử dụng hơn 190.000 nhân viên, có 200 nhà máy trên khắp thế giới và doanh thu riêng tại Mỹ đã đạt tới gần 60 tỷ USD.

Bản thân việc vay vốn không phải lúc nào cũng là thượng sách. Nếu lãi suất phải trả cao hơn tỷ suất lợi nhuận có thể thu được, thì đương nhiên các công ty sẽ không bao giờ vay vốn. Và trên thực tế, nhiều công ty cho rằng nếu không có được những dự án đầu tư mang lại lợi nhuận cao hơn mức lãi suất tiền vay, thì thà cứ cố gắng tiết kiệm tiền còn hơn là đi vay mượn thêm. Nhưng đây không phải là lời giải cho bài toán vốn. Nếu chỉ cần tiết kiệm và giảm tối đa mọi chi phí là đủ, thì chắc sẽ không có ai thành lập công ty và mở rộng các hoạt động kinh doanh cả. Lời giải ở chỗ các công ty làm sao để không phải đi vay mà vẫn tìm ra những nguồn huy động vốn khác nhau.

Trên thị trường vốn, có khá nhiều phương thức khác nhau để tiếp cận các nguồn vốn đầu tư, tuy nhiên, điều khó khăn đối với đa số các công ty là họ không hội đủ các điều kiện cần thiết để vay vốn, hay không nhận được sự tin tưởng từ phía các nhà tài trợ. Vì thế, việc nâng cao năng lực kinh doanh, cũng như đẩy mạnh uy tín của công ty trong con mắt các nhà tài trợ là rất cần thiết để công ty có thể tiếp cận các nguồn vốn một cách dễ dàng.

Và để tối ưu hoá hoạt động huy động vốn, các công ty cần đề ra cho mình những nguyên tắc nhất định, "đánh bóng" chính bản thân công ty, từ đó tạo ra sự tin cậy trong con mắt các nhà tài trợ vốn.

Trước mỗi quyết định tài trợ vốn, các nhà tài trợ thường căn cứ vào độ tin cậy và uy tín của công ty. Nếu công ty muốn sớm nhận được quyết định tài trợ vốn, thì một bộ tài liệu chứng minh độ tin cậy của công ty sẽ là rất cần thiết. Văn bản này càng trung thực và rõ ràng bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Các nhà tài trợ sẽ tiến hành xác minh, nếu phát hiện có chi tiết thiếu trung thực, lập tức họ sẽ đặt dấu hỏi về độ tin cậy của công ty.

Bên cạnh đó, một bộ máy kế toán tài chính hiệu quả cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo dựng độ tin cậy của công ty. Sau những vụ bê bối tài chính lớn như Enron, Worldcom... giờ đây các công ty trên thế giới đã quan tâm hơn đến bộ máy kế toán. Điều này hoàn toàn hợp lý, bởi nếu cứ tiếp tục xem thường bộ máy kế toán như trước đây, thì chắc hẳn sẽ không tránh khỏi những "vết xe đổ". Và do vậy lòng tin của các nhà đầu tư sẽ giảm sút nghiêm trọng.

Nhiều hãng lớn của châu Âu như Orcale, Vodaphone đã quy định: nếu chưa am hiểu về kế toán, nhà quản lý phải bổ sung kiến thức chuyên môn bằng cách tham dự các khóa học ngắn hạn do trường đại học hoặc trung học kinh tế tổ chức. Thời gian học khoảng từ hai đến sáu tháng, sau đó có thể học tiếp lớp nâng cao hoặc tham khảo sách chuyên ngành. Nhà quản lý doanh nghiệp hiểu biết về kế toán, tất nhiên, không phải để tự mình làm lấy các công việc lập sổ sách, mà là để kiểm tra lại tính chính xác của những thông tin cấp dưới báo cáo, giúp cho công tác quản lý, điều hành và ra quyết định hiệu quả và phù hợp với tình hình thực tế hơn.

Theo các chuyên gia tài chính của Oracle, tập đoàn viễn thông lớn nhất châu Âu, thì bộ máy kế toán của Oracle nói riêng và của các công ty khác nói chung, sẽ có tác dụng huy động khai thác nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu kinh doanh, tổ chức sử dụng vốn của công ty sao cho hiệu quả nhất. Bộ máy kế toán sẽ xác định đúng nhu cầu cần huy động vốn, lựa chọn nguồn tài trợ, lựa chọn phương thức đẩy mạnh kinh doanh làm cơ sở để huy động vốn, đảm bảo nguồn vốn phát triển hữu ích, từ đó nâng cao lợi nhuận của công ty.

Nếu công ty bạn chứng minh được với các nhà tài trợ vốn về khả năng quản lý, kỹ năng hoạt động, năng lực tài chính cũng như sự nhạy bén trong kinh doanh, thì bạn sẽ rất thuận lợi trong việc huy động vốn, bởi năng lực công ty là một trong những yếu tố tiên quyết mà các nhà tài trợ vốn xem xét và cân nhắc trước khi đưa ra quyết định tài trợ vốn.

Ngoài việc chủ động huy động vốn và trình bày các năng lực kinh doanh, bạn còn phải thể hiện cam kết tài chính của công ty đối với những hoạt động kinh doanh cụ thể. Nhà tài trợ vốn sẽ luôn nhìn vào giá trị thực của công ty và các hệ số chuẩn mực về tài chính. Bạn nên chuẩn bị các bản báo cáo tài chính về hiệu quả kinh doanh, năng lực quản lý (chứng nhận tiêu chuẩn ISO, TQM...)..., bởi chúng là những biểu hiện rõ ràng nhất khả năng của công ty trong con mắt các nhà tài trợ. Báo cáo tài chính sẽ "tiết lộ" hoạt động của công ty bạn, đồng thời cung cấp những thông tin cần thiết cho các cơ quan quản lý, các nhà đầu tư hiện tại và tương lai, các chủ nợ,... về tình hình tài chính của công ty. Vì vậy, tính trung thực trong báo cáo tài chính có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Ngoài ra, có những chỉ số vừa cần thiết cho các nhà tài trợ vốn khi muốn tìm hiểu về thực lực của công ty bạn, vừa giúp "trang điểm" cho hình ảnh công ty rất hiệu quả:

- Tỷ lệ giá/lợi nhuận (P/E): Cho đến nay, tỷ lệ này được sử dụng phố biến nhất để đánh giá cổ phiếu và tình hình tài chính của công ty, thể hiện bạn sẵn sàng trả bao nhiêu cho mỗi USD lợi nhuận của công ty.

- Tỷ lệ giá/doanh thu (P/S): Chỉ số này có thể được sử dụng để nhận ra những công ty có mạng lưới kinh doanh ổn định, nhưng lợi nhuận có thể giảm sút sau quá trình phát triển quá nóng.

- Tỷ lệ giá/lưu lượng tiền mặt (P/C): Con số doanh thu và lợi nhuận mà công ty báo cáo là "sản phẩm" của những quy tắc tính toán phức tạp có thể được vận dụng để làm sai lệch số liệu. Lưu lượng tiền mặt từ các hoạt động kinh doanh có thể đưa ra một bức tranh xác thực hơn.

- Tỷ lệ giá/giá trị sổ sách (P/B): Tỷ lệ này được dùng để đánh giá giá trị toàn mạng lưới của công ty đối với các máy móc, thiết bị và các tài sản khác, thường được sử dụng để tìm kiếm các mục tiêu tiếp quản.

Nguồn: baothuongmai.net sưu tầm và tổng hợp từ http://acong.nld.com.vn

Nhãn: , ,

Bán chịu - con dao hai lưỡi!

 
Trong kinh doanh luôn tồn tại nhu cầu về vốn. Doanh nghiệp nào tìm được biện pháp có thể giải quyết hữu hiệu vấn đề vốn sẽ có thuận lợi lớn trong hoạt động kinh doanh của mình và dễ dàng chiếm ưu thế trong cuộc cạnh tranh với đối thủ. Sự đòi hỏi về vốn ngày một tăng trong nền kinh tế thị trường chính là “cha đẻ” của hình thức bán chịu, một hoạt động được coi là “phao cứu sinh” giúp các doanh nghiệp vượt qua những cơn sóng gió tài chính.

Bán chịu là quan hệ tín dụng giữa các công ty được biểu hiện dưới các hình thức mua hàng hoá trước- thanh toán sau. Bán chịu xuất hiện là do sự tách biệt giữa kinh doanh và tiêu dùng, và đặc tính thời vụ trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm khiến các công ty phải mua bán chịu hàng hoá.

Mua bán chịu được coi là hình thức tín dụng vì nó chứa đựng đầy đủ nội dung cơ bản của khái niệm tín dụng, cụ thể là:

- Người bán chuyển giao cho người mua quyền được sử dụng vốn tạm thời trong một thời hạn nhất định.

- Đến thời hạn đã được thoả thuận, người mua hoàn lại vốn cộng cả phần lãi suất cho người bán dưới hình thức tiền tệ.

Quan hệ mua bán chịu được xác lập chủ yếu dựa trên sự thỏa thuận giữa các bên dưới hình thức chứng từ hạch toán bằng các khoản phải thu, phải trả, hoặc hình thức thương phiếu. Trong khi các khoản tiền phải trả, phải thu chỉ có thể giải quyết tình trạng thiếu vốn tạm thời cho doanh nghiệp mà không có tính lưu thông, thì thương phiếu lại đáp ứng được cả hai yêu cầu này khi có thể dùng để thế chấp vay tiền ngân hàng. Môi trường kinh doanh càng phát triển, áp lực cạnh tranh càng lớn thì đòi hỏi về thương phiếu càng cao. Hay nói cách khác, với tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng một nâng cao, nhu cầu về vốn ngày càng bức thiết, cũng như hạnh lang pháp lý ngày càng được hoàn thiện, sự có mặt của hoạt động mua bán chịu là cần thiết dù bên cạnh nó có nhiều phương tiện, kĩ thuật thanh toán hiện đại khác. Vấn đề là sớm hay muộn mà thôi.

Những lợi ích mà hoạt động mua bán chịu đem lại chắc mọi người cũng đều nhìn thấy rõ. Tuy nhiên, có lẽ ít ai biết được đây cũng chính là “con dao hai lưỡi” nếu doanh nghiệp chỉ vì muốn thu hút khách hàng mà dễ dãi chấp nhận để khách hàng mua chịu trong khi chưa thực sự nghiên cứu kỹ những thông tin về hoạt động kinh doanh của khách hàng.

Có thể lấy ví dụ trong lĩnh vực công nghệ viễn thông. Vì quá tin tưởng vào lời nói ngon ngọt của những nhà môi giới về viễn cảnh sán lạn của các sản phẩm công nghệ cao, mà lại rất mơ hồ về nhu cầu cụ thể của khách hàng, nhiều công ty lớn đã đầu tư hàng tỷ USD vào sản xuất sản phẩm công nghệ cao rồi sau đó bán chịu cho khách hàng. Kết quả là số nợ khó đòi của các công ty viễn thông hiện nay, theo ước tính, chiếm phần lớn trong tổng số tiền vay khoảng 2000 tỷ USD của các tập đoàn lớn trên thế giới.

Theo số liệu thống kê mới đây của tờ Newsweeks , hoạt động bán chịu đang làm điêu đứng các hãng viễn thông lớn trên thế giới và gánh nặng nợ khó đòi đang ngày một chất cao thêm . Chỉ tính riêng năm 2003, khoản tiền khách hàng mua chịu của các tập đoàn viễn thông lớn đã lên tới 35 tỷ USD. Năm 2004, con số này tăng gấp đôi và năm 2005, mặc dù chưa có thống kê chính xác nhưng nếu cứ theo đà này, có thể dễ dàng suy đoán khoản tiền bán chịu sẽ tăng lên nhiều lần. Làn sóng bán chịu đã làm giảm số lượng các “đại gia” viễn thông trên thế giới khi trong tổng số 37 công ty viễn thông hàng đầu của Mỹ được thành lập từ năm 1996, số phá sản hiện giờ đã lên tới con số 18. Trong số này có các tập đoàn viễn thông lớn như Worldcom, Adelphia,...

Tại sao các doanh nghiệp ngày nay biết bán chịu là mạo hiểm khi chấp nhận những rủi ro lớn và nguy cơ có thể dẫn tới phá sản nhưng họ vẫn làm? Theo kết quả của Viện nghiên cứu Adam, Mỹ, do chi phí đầu vào cho các sản phẩm, dịch vụ ngày càng tăng trong khi ngân hàng không mấy mặn mà với việc cho vay vốn, các công ty đã buộc phải tăng lượng hàng hóa bán chịu cho khách hàng với hy vọng làm tăng giá trị cổ phiếu. Do vậy, không có gì là khó hiểu nếu số nợ khó đòi ở tập đoàn Motorola năm 2000 chỉ chiếm 6,7% tổng số nợ thì đến năm 2001 đã lên tới 57%, ở IKEA tăng từ 2,6% lên 60%, General Electric tăng từ 25,5% lên đến 80% và còn rất nhiều hãng khác cũng lâm vào hoàn cảnh tương tự.

Bài học đắt giá nhất về bán chịu trong giới kinh doanh diễn ra tại thị trường Đan Mạch. Cách đây một thập kỷ, thị trường điện thoại di động ở quốc gia này thực sự sôi động khiến các tập đoàn viễn thông lớn như Nokia, Motorola đổ xô vào tìm đối tác liên doanh sản xuất và phân phối điện thoại di động. Dự đoán nhu cầu sử dụng điện thoại di động của thị trường Đan Mạch tăng từ 1,5 triệu chiếc năm 1997 lên 8,2 triệu chiếc vào năm 1999 khiến các hãng viễn thông mở hầu bao hết cỡ. Nhưng tới khi thị trường bão hoà, các dây chuyền sản xuất vẫn thi nhau hoạt động đã khiến cho sản phẩm làm ra chỉ để chất trong kho. Lúc đó chỉ còn giải pháp duy nhất là đành bán chịu cho khách hàng trong khi ban lãnh đạo cố gắng tìm phương án đưa tập đoàn thoát khỏi “vũng lầy”. Số nợ bán chịu ngày một tăng lên trong khi khoản tiền thu về lại không đáng là bao. Một loạt các chi nhánh của Nokia phải đóng cửa gây ảnh hưởng dây chuyền đến hoạt động kinh doanh của cả tập đoàn.

Ngoài ra, sự đổ vỡ của nhiều tập đoàn viễn thông quốc tế tại châu Âu cũng là một điển hình liên quan đến hoạt động bán chịu. Chỉ tính riêng năm 1999, các tập đoàn viễn thông châu Âu đã chi 120 tỷ USD để nghiên cứu và phát triển thế hệ điện thoại di động Internet tốc độ cao, tiêu biểu là France Telecom, Deustche Telecom. Nhưng lượng khách hàng sẵn sàng chi tiền để được sở hữu những chiếc điện thoại di động hạng sang không nhiều như lượng khách hàng bình dân, buộc các hãng này phải thực hiện phương thức bán chịu. Năm 2000, Nokia đã đầu tư 100 triệu USD theo lối bán hàng trả chậm cho đối tác Telsim (Thổ Nhĩ Kỳ). Nhưng việc Deustche Telecom đầu tư vào thị trường này khiến Nokia lo ngại mất thị phần và đã đầu tư thêm cho Telsim 700 triệu USD. Cho tới nay, Telsim đã được Nokia và Motorola đầu tư hơn 2 tỷ USD. Phần lớn cổ phần của Telsim lúc bấy giờ do tập đoàn Turkcell nắm giữ, thế nên, khi Turkcell phá sản, Telsim cũng sụp đổ theo. Đây thực sự là một cú đánh mạnh làm cho hoạt động kinh doanh của Motorola chựng lại khi ước tính số nợ khó đòi hiện nay của tập đoàn này đã lên đến 2,3 tỷ USD.

Một trong những nguyên nhân làm cho tình trạng trên kéo dài nhiều năm, khó giải quyết là do các khoản nợ giữa các bên thường không được xác nhận bằng văn bản. Có trường hợp con nợ bị giải thể, sáp nhập, phá sản, dẫn đến tình trạng không còn người đứng ra kế thừa nghĩa vụ nợ, làm cho các doanh nghiệp chủ nợ khó có thể truy đòi được các khoản nợ vì không có đủ bằng chứng pháp lý. Cuối thập niên 90, tập đoàn Lucent Techlonogy bán chịu 2 tỷ USD cho hãng Winstar Comunication với mục tiêu thâm nhập thị trường công nghệ Trung đông và Tây á. Nhưng đầu năm 2001, khi khủng hoảng tài chính ở khu vực này xảy ra, sự sụp đổ của Winstar Comunication đã cuốn theo số nợ của Lucent Techlonogy. Adelphia cũng “bán mình” cho các vụ sụp đổ ở Bắc mỹ và châu Á.

Không những thế, trong kinh doanh ngày nay, không phải quốc gia nào cũng có hệ thống pháp luật hoàn thiện điều chỉnh hoạt động mua bán chịu, cụ thể là thương phiếu. Vì thế, trong lúc hoạt động mua bán chịu vẫn diễn ra chủ yếu theo thoả thuận, nhiều doanh nghiệp còn e ngại sử dụng thương phiếu như là phương tiện tín dụng, thanh toán trong quan hệ mua bán. Do đó, các ngân hàng không có đủ điều kiện để có thể cấp tín dụng cho doanh nghiệp dưới hình thức chiết khấu thương phiếu hoặc cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu. Tình trạng này dễ dẫn đến hậu quả là tăng nợ nần dây dưa giữa các doanh nghiệp. Chi tiết này có thể được minh chứng qua số liệu nợ khổng lồ giữa các công ty trên thế giới đến nay là khoảng gần 4000 tỷ USD.

Suy cho cùng, đôi khi chỉ vì muốn tạo điều kiện thuận lợi cho người mua, qua đó thu hút thêm khách hàng mới mà nhiều công ty thường xuyên đồng ý bán chịu. Phương thức này là cần thiết và chỉ thực sự có hiệu quả khi doanh nghiệp đã có những đánh giá nghiêm túc và tìm hiểu kỹ lưỡng về khách hàng, về khả năng trả nợ của họ đồng thời nghiên cứu những biến động của thị trường trong tương lai. Có thế, rủi ro vỡ nợ mới được giảm thiểu đến mức thấp nhất.

Đúng là không có phương thức kinh doanh nào là hoàn mỹ cả, tất cả đều ẩn chứa trong nó “hai lưỡi sắc” của một con dao: một mặt nó có thể là công cụ sắc bén giúp bạn rất nhiều trong hoạt động kinh doanh, nhưng mặt khác nó cũng có thể làm bạn “đứt tay” bất cứ lúc nào. Điều quan trọng là chúng ta cần phải biết phát huy hết tính năng của “con dao” trong tay mình để tránh phải nhận những “vết thương” không đáng có.

Nguồn: baothuongmai.net sưu tầm và tổng hợp từ bwportal.com

Nhãn: ,

Kỹ nǎng giao tiếp dành cho nhà quản lý!

 
Một nghiên cứu mới được tiến hành ở Mỹ đối với 20.000 người phỏng vấn cho thấy: lý do số 1 làm cho người ta rời bỏ công việc chính là "cách đối xử không tốt của ông chủ". Nói cách khác, đó là vì họ đã gặp phải những ông chủ tồi.

Một trong những nguyên nhân được nêu lên nhiều nhất là do... kỹ nǎng giao tiếp kém. Người ta thường được khuyến khích để hoàn thành tốt công việc ở nơi làm việc, nhưng không có một đánh giá nào về kỹ nǎng giao tiếp của họ. Nếu bạn không thể nói lưu loát trong những cuộc họp, thì bạn đã mất đi sự tín nhiệm và tin cậy mà một nhà quản lý cần có. Hay nói đơn giản là nếu bạn không phải là một người biết truyền đạt có hiệu quả, thì có lẽ bạn không nên làm ông chủ. Vậy làm thế nào để các nhà quản lý ngày nay truyền đạt tốt, kể cả sử dụng e-mail?

Dưới đây là vài điểm cần thiết đáng để lưu ý.

1. Cần phải chú ý lắng nghe.

Quan tâm đến những người làm công cho bạn. Điều này mới nghe có vẻ đơn giản, nhưng đó là lời phàn nàn phổ biến và cũng là ý kiến của nhiều chuyên gia về nguồn con người. Họ nhấn mạnh nhiều nhất trong các cuộc hội thảo của các nhà quản lý là "học cách lắng nghe sao cho tốt hơn". Có câu chuyện về một ông chủ đã chống tay dưới cằm và lắng nghe chǎm chú bất cứ ai nói. Nhưng nếu nhìn kỹ, thì ra mắt ông ta đã nhắm mắt lại dưới cặp kính mầu. Ông ta thường dùng các cuộc họp để tranh thủ ngủ một giấc ngắn.

2. Dành thời gian cho những người làm.

Thường xuyên nên có những cuộc gặp từng người - thành viên đội công tác của bạn - là rất quan trọng. Nếu họ làm việc ở nơi xa, thì gặp qua điện thoại. Nếu bạn không thể gặp hàng tuần, thì ít ra cũng phải gặp một tháng hai lần, và đừng có gọi điện thoại cho ai trong khi đang gặp nhau, trừ phi cực kỳ cần thiết. Điều này chứng tỏ cho những người làm biết rằng họ luôn được ông chủ chú ý. Nên nói về con đường nghề nghiệp của họ và bạn hình dung họ đang phát triển công việc ra sao. Mặt khác, những người lao động cũng cần nhận thấy những sức ép thời gian của ông chủ.

3. Nêu ra một thông điệp nhất quán về những giá trị của bạn.

Nhận biết rõ bạn là ai và bạn đại diện cho những gì, điều đó có thể giúp cho những người làm của bạn có những quyết định tốt hơn của chính họ (hoặc ít ra là những quyết định mà bạn sẽ vừa lòng hơn).

4. Cần có thông tin phản hồi thường xuyên, tránh những bất ngờ.

Những người làm công trước hết không nên biết về những vấn đề công việc hoàn thành có ý nghĩa trong một đánh giá hàng nǎm. Mà họ nên sẵn sàng trước để đối mặt cho tốt (và càng nhân đạo càng tốt) rằng có những điều mà họ cần cải tiến.

5. Cần gây được ấn tượng và có kết quả khi nói với các nhóm.

Tại đây, không phải là nói với Phòng thương mại địa phương - mặc dù điều đó cũng tốt - nhưng tác giả muốn nói đến các nhóm người làm công. Nếu bạn không thể nói lưu loát trong những cuộc họp, thì bạn đã mất đi sự tín nhiệm và tin cậy mà một nhà quản lý cần có. Hãy học để biết cách nói ngắn gọn nhưng có sức thuyết phục. Và cũng phải hiệu quả như thế khi bạn viết e-mail cho nhóm.

6. Đừng che giấu đằng sau e-mail.

Phần lớn những vấn đề tế nhị phải được thảo luận với cá nhân. Hầu hết những mâu thuẫn phải được giải quyết với cá nhân, hoặc ít ra phải bằng điện thoại, khi đã dính líu đến những xúc động thì e-mail cũng trở thành cỗ xe không còn phù hợp để truyền tin và giao tiếp. Và e-mail cũng chẳng bao giờ là một phương pháp thích hợp để nói với ai đó rằng anh hay chị đã bị sa thải. Tuy nhiên, e-mail vẫn là một công cụ truyền đạt quan trọng, bởi vậy đây là những lời khuyên làm thế nào để truyền đạt thông tin bằng e-mail được tốt nhất.

7. Có được sự đánh giá của chính bạn.

Bạn nên tìm thông tin phản hồi từ những người làm về kết quả công việc của bạn với tư cách là một giám đốc. Điều đó sẽ làm cho bạn trở thành ông chủ tốt hơn và cũng khiến nhân viên cấp dưới của bạn khâm phục hơn. Bạn có bao giờ khẩn khoản yêu cầu một thông tin phản hồi như thế chưa? Những công ty càng lớn (như Microsoft) đều có những hình thức phản hồi thông tin về giám đốc hàng nǎm và đều được trả lời thoả đáng.

Tuy nhiên, đừng làm việc này qua e-mail mà phải gặp trực tiếp một người để nghe họ về một vấn đề riêng hoặc có liên quan đến phong cách quản lý của bạn. Hãy cố gắng làm cho người ta hết bực tức hay tiêu tan nghi ngờ càng nhiều càng tốt, cộng với chút hài hước để giữ cho không khí không bao giờ cǎng thẳng. Bạn cần thành thật trong cách quan tâm về những gì mà anh ấy hay chị ấy đang nói. Điều đó có thể khó chịu cho bạn nhưng thậm chí có thể còn khó chịu hơn nếu người ta không nói ra. Và kết quả cuối cùng thường có thể tạo nên một mối quan hệ tốt hơn.

Điều tốt nhất cho bạn là duy trì được đối thoại, đừng làm cho người lao động ấm ức trong lòng. Rồi thời gian qua đi, họ sẽ đủ tin bạn để có thể kể cho bạn nghe một điều còn giữ kín và giãi bầy tâm sự với bạn.

8. Hành động qua thông tin phản hồi của người làm.

Bạn xử sự ra sao khi một người làm chỉ trích bạn? Bạn hãy lắng nghe những gì mà người ta phải nói, hỏi những câu hỏi ở nơi thích hợp tiếp nhận những gợi ý của họ về việc bạn có thể cải tiến như thế nào rồi sau đó hứa suy xét nó.

Bạn có thể không đồng ý với mọi điều người ta nói, ít ra là ban đầu. Thế nhưng hãy tiếp thu nó để suy nghĩ cho thận trọng. Bởi vì phản ứng ban đầu của bạn có thể thủ tiêu hết tất cả những thông tin phản hồi. Nên nói với người phê bình rằng bạn sẽ dành thời gian để suy nghĩ kỹ những điều chỉ trích này và trả lời cho họ sau. Cơ hội là bạn sẽ đánh giá đúng những gì mà những người làm phải nói, cho dù - sau khi đã mất nhiều thời gian để suy nghĩ về chuyện này - bạn vẫn không đồng ý. Hãy gặp lại người đó và hứa làm những gì bạn cảm thấy cần thiết để đề cao mối quan hệ.

Nguồn: baothuongmai.net sưu tầm và tổng hợp

Nhãn: ,

Một số kỹ năng giải quyết vấn đề

 
Là một nhà quản lý, hàng ngày bạn phải tiếp cận và xử lý vô vàn những vấn đề trong công việc, trong gia đình và ngoài xã hội. Có bao giờ bạn thấy mệt mỏi và bị stress vì cứ phải gặp những vấn đề lặp đi lặp lại, từ những vụ việc đơn giản đến phức tạp?

Tình thế khẩn trương có thể khiến nhà quản lý đưa ra những quyết định thiếu sáng suốt. Nếu bạn đã và đang trong hoàn cảnh vừa nêu, thì đã đến lúc bạn phải nhìn lại mình và hãy trang bị cho mình kỹ năng giải quyết vấn đề cần thiết của một nhà quản lý.

Nhằm giúp nhà quản lý tháo gỡ vấn đề này, baothuongmai.net xin giới thiệu 6 bước căn bản trong việc giải quyết vấn đề để các bạn tham khảo.

1. Nhận ra vấn đề. Trước khi bạn cố tìm hướng giải quyết vấn đề, bạn nên xem xét kỹ đó có thật sự là vấn đề đúng nghĩa hay không, bằng cách tự hỏi: chuyện gì sẽ xảy ra nếu...?; hoặc: giả sử như việc này không thực hiện được thì...? Bạn không nên lãng phí thời gian và sức lực vào giải quyết nếu nó có khả năng tự biến mất hoặc không quan trọng.

2. Xác định chủ sở hữu của vấn đề. Không phải tất cả các vấn đề có ảnh hưởng đến bạn đều do chính bạn giải quyết. Nếu bạn không có quyền hạn hay năng lực để giải quyết nó, cách tốt nhất là chuyển vấn đề đó sang cho người nào có thể giải quyết. Có một câu nói nửa đùa nửa thật nhưng cũng đáng để bạn lưu ý: “Nhiệt tình cộng với thiếu hiểu biết đôi khi thành phá hoại”.

3. Hiểu vấn đề. Chưa hiểu rõ nguồn gốc của vấn đề sẽ dễ dẫn đến cách giải quyết sai lệch, hoặc vấn đề cứ lặp đi lặp lại. Nếu nói theo ngôn ngữ của y khoa, việc “bắt không đúng bệnh” thì chỉ trị triệu chứng, chứ không trị được bệnh, đôi khi “tiền mất, tật mang”. Bạn nên dành thời gian để lấy những thông tin cần thiết liên quan vấn đề cần giải quyết, theo gợi ý sau: Mô tả ngắn gọn vấn đề; nó đã gây ra ảnh hưởng gì? Vấn đề xảy ra ở đâu? Lần đầu tiên nó được phát hiện ra là khi nào? Có gì đặc biệt hay khác biệt trong vấn đề này không?

4. Chọn giải pháp. Yếu tố sáng tạo sẽ giúp nhà quản lý tìm được giải pháp đôi khi hơn cả mong đợi. Cần lưu ý là một giải pháp tối ưu phải đáp ứng được ba yếu tố: có tác dụng khắc phục giải quyết vấn đề dài lâu, có tính khả thi, và có tính hiệu quả.

5. Thực thi giải pháp.
Khi bạn tin rằng mình đã hiểu được vấn đề và biết cách giải quyết nó, bạn có thể bắt tay vào hành động. Để đảm bảo các giải pháp được thực thi hiệu quả, nhà quản lý cần phải xác định ai là người có liên quan, ai là người chịu trách nhiệm chính trong việc thực thi giải pháp, thời gian để thực hiện là bao lâu, những nguồn lực sẵn có khác.v.v...

6. Đánh giá. Sau khi đã đưa vào thực hiện một giải pháp, bạn cần kiểm tra xem cách giải quyết đó có tốt không và có đưa tới những ảnh hưởng không mong đợi nào không. Những bài học rút ra được ở khâu đánh giá này sẽ giúp bạn giảm được rất nhiều “calori chất xám” và nguồn lực ở những vấn đề khác lần sau.

Có thể bạn sẽ cảm thấy hơi rườm rà nếu làm theo các bước trên. Vạn sự khởi đầu nan. Lần đầu tiên áp dụng một kỹ năng mới bao giờ cũng đòi hỏi sự kiên nhẫn và quyết tâm của bạn. Nếu bạn thường xuyên rèn luyện, thì dần dần kỹ năng giải quyết vấn đề sẽ trở thành phản xạ vô điều kiện.
Và đừng quên hướng dẫn cho nhân viên của bạn về kỹ năng này, vì họ chính là cánh tay phải giải quyết vấn đề khi bạn vắng mặt đấy.

Nguồn: baothuongmai.net sưu tầm và tổng hợp

Nhãn: ,

10 biện pháp mở rộng hoạt động SXKD cho các doanh nghiệp nhỏ

 
Thiếu vốn và huy động luôn là vấn đề gây đau đầu cho các doanh nghiệp nhỏ. Các doanh nghiệp nhỏ luôn ở trong tình trạng “đói vốn” trầm trọng. Họ phải đối mặt với những khó khăn rất lớn khi tìm kiếm những nguồn từ bên ngoài để cung cấp vốn cho chiến lược tăng trưởng của công ty. Với sự hạn hẹp về tài chính như vậy, các doanh nghiệp nhỏ cần phải nghĩ đến những phương cách sáng tạo để thúc đẩy công việc kinh doanh đi lên.

1. Ứng dụng Internet. Internet sẽ cho phép các DN nhỏ tiếp cận một thị trường tương đối rộng lớn và phục vụ khách hàng toàn bộ 24h trong ngày. Chỉ với một khoản tiền nhỏ hàng tháng, bạn đã có thể quảng bá công việc kinh doanh của mình ra toàn thế giới. Nhưng cái lợi lớn nhất của Internet chính là nó tạo ra một sân chơi bình đẳng giữa các DN nhỏ và DN lớn. Một Website được thiết kế tốt có thể mở rộng phạm vi và quy mô kinh doanh của bạn thậm chí còn có thể tạo ra hình ảnh của một công ty có cơ cấu tổ chức tốt thay vì một DN nhỏ do mỗi một nhà quản lý điều hành. Xây dựng một Website tốt là bạn có thể cạnh tranh được với các công ty lớn.

2. Thuê mướn nhân công với chi phí thấp nhưng hiệu quả. Nếu bạn không đủ điều kiện thuê những người làm việc cả ngày, bạn có thể thuê những nhân viên bán hàng theo phương thức trả theo hoa hồng sản phẩm. Bạn sẽ chỉ phải trả cho họ dựa trên những gì họ thu được. Hoặc bạn có thể thuê những người sẵn sàng làm việc không lấy lương đổi lại sẽ là cổ phần của công ty nếu công ty làm ăn phát đạt. Có rất nhiều những người có tài sẵn sàng làm việc với thu nhập thấp để đổi lại có được sự đảm bảo về quyền sở hữu một phần công ty một khi nó ăn nên làm ra.

3. Mở rộng các mối quan hệ bằng việc tham gia vào các tổ chức kinh doanh. Các tổ chức kinh doanh và thương mại là những nguồn cung cấp những mối quan hệ tiềm tàng cho bạn trong tương lai (từ những nhà đầu tư, khách hàng, bạn hàng hay những người có kinh nghiệm). Hơn nữa việc này còn giúp bạn nắm được những thông tin cập nhật nhất về lĩnh vực bạn đang hoạt động.

4. Hợp tác và liên minh với một công ty khác. Điều này sẽ đem lại cho bạn một vị thế mới đầy thách thức trên thương trường. Việc hợp tác này sẽ làm cho cả hai bên có thể hỗ trợ lẫn nhau trong việc thúc đẩy và quảng bá sản phẩm của mình. Nếu công việc kinh doanh của bạn liên quan đến Internet thì hai bên có thể đưa đường dẫn (link) tới Website của bên kia trên Website của mình. Hay bạn có thể cho công ty đối tác được quảng cáo miễn phí trên trang của mình để đổi lại họ cũng sẽ dành cho bạn những điều tương tự

5. Tìm kiếm những đại lý có tiềm năng. Bạn có thể ký kết hợp đồng với một đại lý độc quyền có tiềm năng trong đó có điều khoản sẽ giảm mức phí đóng góp nếu đại lý này mang lại lợi nhuận cho bạn. Bằng cách này, bạn có thể dùng một đại lý này để thu hút những đại lý mới.

6. Tìm những cách thức ít tốn kém để quảng bá công ty bạn một cách thường xuyên. Chẳng hạn như bảo các thành viên trong gia đình in logo của công ty lên ô tô của họ. Phát hành những tờ rơi, tờ quảng cáo cũng là một cách hữu hiệu để quáng cáo với chi phí thấp hơn rất nhiều so với việc quảng cáo trên các phương tiện truyền thông. Các-vi-dít cũng là một phương tiện quảng cáo cần được tận dụng.

7. Lợi dụng tất cả những gì được “miễn phí”. Hãy tận dụng mọi tài nguyên được miễn phí trên Internet để quảng bá công việc kinh doanh của mình. Đăng ký vào các trang có hỗ trợ đăng banner quảng cáo. Thử xem khả năng có thể trao đổi quảng cáo lẫn nhau với các nhà xuất bản tạp chí điện tử trên mạng.

8. Tận dụng tối đa sự “nổi tiếng” của bạn. Nếu bạn đã thành công trong việc tạo dựng danh tiếng cho mình, bạn nên tận dụng danh tiếng này, sử dụng chúng tổ chức ra các khoá học thu phí những ai có nhu cầu muốn học hỏi kỹ năng kinh doanh riêng có của bạn. Bạn cũng có thể mở rộng công việc kinh doanh của mình thông qua việc chấp nhận tham gia các buổi nói chuyện hoặc tư vấn. Bạn càng nổi tiếng trong lĩnh vực hoạt động của mình, bạn càng có cơ hội lớn để “đầu tư” cho sự nổi tiếng đó.

9. Phát triển những chương trình hay hệ thống để quáng cáo và bán sản phẩm. Nếu bạn đã có được một vài bài viết được đánh giá cao, hãy thử viết một cuốn sách. Xuất bản sách sẽ không còn tốn kém nữa với sự xuất hiện của sách điện tử (e-book). Thay vì phải tìm kiếm nhà xuất bản, bạn có thể tự trình bày và tiếp thị cuốn sách của mình dưới dạng sách điện tử. Một cách khác là phát triển những chương trình phần mềm dùng để chế bản hàng loạt hoặc biên soạn những bài viết đó ghi vào đĩa CD.

10. Tài trợ cho các triển lãm thương mại diễn ra trong cộng đồng bạn đang hoạt động. Mục tiêu chính của các triển lãm thương mại (trade show) là tạo ra một nơi gặp gỡ giữa các chuyên gia trong lĩnh vực kinh doanh, các thương nhân để tìm hiểu về các sản phẩm và dịch vụ thuộc một lĩnh vực nhất định. Tham gia vào các triển lãm thương mại cho phép bạn giới thiệu và quảng bá về sản phẩm của mình cho những người khác và điều này có thể củng cố hình ảnh của bạn như là người dẫn đầu thị trường hay một người tiên phong trong một lĩnh vực mới. Ở một mức độ thấp hơn, bạn có thể tham gia vào các hoạt động sinh hoạt cộng đồng hay hỗ trợ cho các dự án tạo vốn cho người nghèo. Tất cả những hoạt động trên sẽ làm nâng cao uy tín cho bạn và tạo chỗ đứng trong cộng đồng và lĩnh vực bạn đang hoạt động

Nguồn: baothuongmai.net tổng hợp

Nhãn: , ,


Web baothuongmai.net

Tài chính-Ngân hàng: Finance-Bank

 

 

 

 

  • Tài chính
  • Ngân hàng
  • Chứng khoán